Home / Văn mẫu / Văn mẫu lớp 11 mới nhất / Phân tích giá trị hiện thực trong Bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Phân tích giá trị hiện thực trong Bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực trong bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Bài làm

Nguyễn Đình Chiểu  (1822-1888) là một nhà thơ, nhà văn hóa cận đại của Việt Nam. Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai. Nguyễn Đình Chiểu chính là một minh chứng sống động về một con người với nhân cách lớn. Con người mà cuộc đời nghiệt ngã, đau khổ, bất hạnh, bao nhiêu sóng gió đều đã trải qua nhưng tinh thần vẫn bất khuất, hướng về phía trước. Vượt qua bao nhiêu thăng trầm của số phận để đứng vững trước thời cuộc. Trong sự nghiệp của mình, các tác phẩm của cụ Đồ Chiểu gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân văn khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong dòng văn chương yêu nước chống xâm lược trong giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX và “ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một tác phẩm tiêu biểu. Tác phẩm mang giá trị hiện thực vô cùng sâu sắc

Năm 1858, thực dân Pháp  nổ súng vào  Đà Nẵng, Việt Nam. Sau khi chiếm được thành Gia Định vào đầu năm 1859, quân Pháp bắt đầu một quá trình mở rộng tấn công ra các vùng lân cận như Tân An, Cần Giuộc, Gò Công …Đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu, những nghĩa sĩ mà trước đây vốn là nông dân, vì quá căm phẫn kẻ ngoại xâm, đã quả cảm tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc tiêu diệt được một số quân của đối phương và viên tri huyện người Việt đang làm cộng sự cho Pháp. Khoảng 20 nghĩa sĩ bỏ mình. Những tấm gương hy sinh anh dũng đó đã gây nên niềm xúc động lớn trong nhân dân.

Theo yêu cầu của Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu làm bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đánh này.

Xem thêm:  Bình giảng bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm

Bài văn tế này bằng chữ Nôm gồm 30 liên, tức 60 vế đối biền ngẫu, làm theo thể phú luật Đường luật, có vần, có đối. Toàn bài mang tính chất trầm hùng, bi thiết, có sức cổ vũ lớn. Cái đặc sắc, kỳ thú ở bài văn là dùng nhiều ngôn ngữ và chi tiết bình thường, quen thuộc trong đời sống hàng ngày mà dựng lên được hình ảnh rất sống của thế hệ những người chống Pháp tiêu biểu buổi ấy…

Bài văn tế bằng chữ Nôm là lời ăn tiếng nói của nhân dân nên tính hiện thực được miêu tả trong bài văn được nhân dân cảm thụ sâu sắc hơn.

Phạm vi hiện thực được phản ánh trong bài thơ khá tập trung. Cảnh lầm than, tang tóc của nhân dân, tội ác của quân xâm lược và bọn tay sai đã được miêu tả một cách khá cụ thể. Ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu đã ghi lại được những biến động, những hình ảnh về công cuộc kháng chiến Nam Bộ trong nhiều năm dài chống Pháp qua sự miêu tả những người lính Cần Giuộc. Nguyễn Đình Chiểu đã viết về người nông dân chiến đấu ấy như sau; “Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm giao tu, nón gõ. Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kìa; Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ. Chi nhọc quan quản gióng trống kỉ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, đạp cửa xông vào, liều mình như chẳng có”.

Cả bài văn tế là một khúc ca bi tráng thật thê lương. Chất hiện thực được thể hiện sâu sắc qua những áng văn tả những người lính Cần Guộc.

Xem thêm:  Viết bài nghị luận bày tỏ ý kiến của mình về phương châm: học đi đôi với hành

Mở đầu khúc ca bi tráng với những câu chữ thật thê lương. Trong cuộc đấu tranh gian khổ vì độc lập, tự do này, bản chất tốt đẹp, tấm lòng yêu nước của những nông dân bình thường này, vẻ đẹp thực sự của tâm hồn họ được bộc lộ một cách trọn vẹn. Nguyễn Đình Chiểu, với sự cảm thông sâu sắc, nhận ra rằng cuộc sống của họ đã từng vất vả xiết bao. Cuộc sống của họ vốn vẫn rất tầm thường vì cuộc sống bình thường đã quá đủ nhọc nhằn, gian khó. Cần cù, chịu khó quanh năm ngày tháng nhưng vẫn nghèo. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên càng khiến cho cuộc sống của họ thêm nhiều bế tắc. Ấy vậy mà còn thêm chiến tranh, bom lửa, khiến sự khổ sở của họ càng thêm cùng cực. Và vì đất nước, vì nhân dân, những người nông dân thật thà chất phác ấy đã dũng cảm đứng lên làm nên điều kì diệu

"Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy bòng bong che trắng lốp: muốn tới ăn gan: ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ."

Như một phản ứng hạt nhân tất yếu, lòng căm thù giặc cao độ đã làm nảy sinh một khát vọng cao độ: khát vọng đánh giặc. Đó là ước muốn hoàn toàn tự nhiên và hoàn toàn tự nguyện:

"Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình:
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc rat ay bộ hộ."

phan tich gia tri hien thuc trong bai van te nghia si can giuoc - Phân tích giá trị hiện thực trong Bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Phân tích giá trị hiện thực trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Họ tự nguyện tiến về phía trước, phía trước đó là nơi có mũi giáo quân thù, họ bất chấp và không chút sợ sệt. Cả cuộc đời họ vất vả, mưu sinh nhưng trong họ luôn tràn đầy sinh khí của cuộc sống, sự tự trọng và lòng tự tôn dân tộc. Họ vì những người thân yêu của mình, họ vì hai chữ dân tộc mà dũng cảm tiến bước. Nhưng tinh thần yêu nước của họ cũng vướng phải nhiều bi kịch. Họ bước vào chiến trường địa ngục với tư trang là thiết bị chỉ dùng để làm ruộng. "Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin qua như trời hạn trông mưa."

Xem thêm:  Phân tích tính nghệ thuật trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Họ bắt đầu cuộc chiến đấu vào lúc lẽ ra triều đình phong kiến cùng quan quân của họ đã phải tiến hành cuộc chiến đấu ấy từ lâu nhưng lại “ án binh bất động” một cách khó hiểu.

"Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ."

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm: tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Trước giặc dữ là những tên lính nhà nghề có đủ “ tàu sắt tàu đồng”, đạn to, đạn nhỏ, họ chỉ là những người nông dân không có kiến thức gì về trận mạc, chỉ có “ một manh áo vải”, “ một ngọn tầm vông”, chỉ có “ lưỡi dao phay”. Cuộc chiến đấu chênh lệch ấy đã dẫn đến bi kịch cho cuộc đời của chính họ. Tuy nhiên, người nông dân đã trở thành người anh hùng chân đất làm nên lịch sử. Họ vẫn là những người nông dân chân lấm tay bùn nhỏ bé, nhưng mặ khác, họ cũng rất anh hùng. Anh hùng vì họ dám đánh giặc, dù chỉ với ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, manh áo vải. Họ còn anh hùng hơn nếu so với thái độ sợ giặc, hàng giặc của triều đình. Người nông dân nhưng lại gánh trên đôi vai mình trọng trách lịch sử. Bởi vậy, họ là những con người rất đáng tự hào.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm xúc động nhất về người anh hùng nông dân Nam Bộ. Đó là những người quanh năm nghèo khó, chưa từng cầm vũ khí, nhưng khi quân Pháp đến thì xông lên chiến đấu quên mình, thể hiện rõ tinh thần không chịu làm nô lệ, yêu nước, thương dân.

Lưu Nguyễn

Check Also

chan dung nu sinhb3fe 310x165 - Soạn bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương.

Soạn bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương.

Đề bài: Soạn bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương. TIỂU DẪN Tác giả …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *