Home / Văn mẫu / Văn mẫu lớp 12 mới nhất / Phân tích hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Phân tích hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Đề bài: Phân tích hình tượng người nông dân trong văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Bài làm

Nguyễn Đình Chiểu làm bài" Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc" để truy điệu những nghĩa quân đã hi sinh. Qua bài văn tế này, lần đầu tiên người nông dân Việt Nam đi vào văn học thành văn với tất cả vẻ đẹp và tầm vóc lịch sử sáng ngời nhất. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ qua bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" bình dị mà vĩ đại tinh thần vì đất nước mà quên thân mình của họ đáng tự hào, đáng được tôn vinh vô cùng.

Người nghĩa sĩ ấy xuất thân là người nông dân nghèo khó, họ là những người nông dân bình thường, thật thà, chất phác, quanh năm đầu tắt mặt tối, lam lũ mưu sinh.

"Cui cút làm ăn,
Riêng lo nghèo khó".

Gói vào trong đó là những làm ăn, cần mẫn, những lo toan nhọc nhằn. Họ cũng rất chất phác, thật thà:

"Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ".

Chỉ biết ruộng trâu nghĩa là ngoài việc đồng áng ra, họ không còn biết gì cả. Ở trong làng bộ ngụ ý toàn bộ thế giới đối với họ thu lại chỉ trong làng xóm mà thôi. Câu kế tiếp liệt kê những công việc nặng nhọc phủ vây con người lam lũ bé nhỏ này:

"Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cày, tay vốn quen làm"

Họ không biết chút gì về chiến trận. Lương thiện làm ăn, họ có bao giờ nghĩ đến chuyện gươm súng:

Xem thêm:  Tóm tắt Bản tuyên ngôn độc lập

"Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó".

Tuy nhiên, khi giặc Pháp đánh chiếm quê hương Nam Bộ, người nông dân hiền lành, chân chất và hoàn toàn xa lạ với chiến trận binh đao đó bỗng chốc trở thành người nghĩa sĩ anh dũng đánh Tây. Đó là sự phi thường nhưng cũng bình thường vì theo một quá trình rất tự nhiên và rất thực. Cũng chỉ vì tình yêu với quê hương đất nước, lại không thấy triều đình điều binh đánh giặc, nên nỗi họ phải xuất trận ra tay

"Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ".

Những hành động của họ không hề là những hành động nông nổi, bộc phát. Lòng căm thì của họ là có cơ sở, có lý trí. Tuy chỉ là những người nông dân thật thà, chất phác, nhưng họ biết phân biệt cái đúng sai. Họ nhận thức được hành động của giặc Pháp với những  chiêu bài truyền đạo, khai hóa ở nước ta nhưng thực chất là xâm lược, là một lũ treo dê bán chó. Chúng đã áp bức, bóc lột nhân dân ta, bởi vậy nhân dân ta không thể đứng yên chịu chết

phan tich hinh tuong nguoi nong dan trong van te nghia si can giuoc - Phân tích hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

“Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;
Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.

Trong trận tập kích Cần Giuộc này, họ vấn cứ là những người nông dân yêu nước đi đòi lại công lý, họ có ngọn tầm vông vạt nhọn, con cúi làm mồi lửa, lưỡi dao phay… cùng họ làm nên lịch sử

Xem thêm:  Nghị luận xã hội về cách ứng xử văn hóa trong giao thông hiện nay

“Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, mã ní hồn kinh:
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ”.

Nhiều động từ và giới từ tả những động tác liên tục chống đỡ, công thủ mọi hướng: đạp rào lướt tới, xô cửa xông vào, đâm ngang, chém ngươc, hè trước, ó sau. Từng vế câu gối hạc đối nhau chan chát, quyết liệt. Hình ảnh những người nghĩa quân trong giờ phút căng thẳng cao độ của trận đánh được diễn tả cực kì sinh động, thể hiện lòng dũng cảm tuyệt vời, sự hi sinh cao quý đến độ thiêng liêng của người nghĩa sĩ.

Sự hi sinh của họ là một bi kịch, và tác giả vô cùng cảm khái:

“Những lắm lòng nghĩa lâu dùng
Đâu biết xác phàm vội bỏ”.

Nhưng đây là một bi kịch cao cả thiêng liêng của những người nghĩa sĩ da ngựa bọc thây, những anh hùng vô danh nào đợi gươm hùm treo mộ. Cái chết của nghĩa quân gieo khắp không gian một vẻ u sầu, nơi người người một nỗi tiếc thương đau xót. Sự hy sinh của họ cùng với tinh thần ấy thật quá quật cường. Khiến cho nhân dân ta, từ người già lẫn con trẻ vừa xúc động, vừa xót xa, vừa tự hào. Càng thương cảm hơn khi ta hiểu được động cơ hi sinh vô cùng cao quý của nghĩa quân. Vì nghĩ tới tấc đất ngọn rau của quê hương, bát cơm manh áo của nhân dân, không chịu làm nô lệ, nên họ quyết tâm đánh giặc, dù phải hi sinh:

Xem thêm:  Soạn văn Bài 5: viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội

“Thà thác mà đặng câu dịch khái; về theo tổ phụ cũng vinh”.

Người chiến sĩ hiên ngang ra đi theo “chí làm trai” dù phải chết cũng không hối hận.

“Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghe, ai làm nên bốn phía mây đen:
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ”.

Tiếng khóc tiếc thương người nghĩa sĩ có bi thương nhưng không bi lụy. Đây là nước mắt anh hùng như đang long lanh hình ảnh những con người nghìn năm tiết rỡ. Và sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc nên hồn thiêng của người nghĩa sĩ sẽ theo giúp cơ binh để đánh đuổi giặc thù ra khỏi cõi bờ. Lời khấn nguyện như thôi thúc những người đang sống hãy tiếp tục đứng lên chiến đấu diệt thù.

Người nông dân trong bài văn tế trở thành những người anh hùng chân đất làm nên lịch sử. Một mặt họ vẫn lam lũ bé nhỏ, cui cút làm ăn, nhưng mặt khác, họ rất anh hùng. Anh hùng vì họ dám đánh giặc, dù chỉ với ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, manh áo vải. Họ càng anh hùng nếu so với thái độ sợ giặc, hàng giặc của triều đình. Những người nông dân này mang tư tưởng thời đại cao cả

Lưu Nguyễn

Check Also

Tóm tắt truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Tóm tắt truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Tóm tắt truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa Bài làm Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *